Ở chiều ngược lại, nhập khẩu các nhóm hàng công nghiệp chế biến và công nghệ cao cũng tăng tương ứng, do phần lớn linh kiện, nguyên phụ liệu vẫn phải nhập từ bên ngoài.
Xét theo thị trường, Mỹ và Trung Quốc tiếp tục là hai đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với tổng kim ngạch song phương chiếm gần một nửa tổng xuất nhập khẩu cả nước.
Riêng xuất khẩu sang Mỹ năm nay đạt mức kỷ lục hơn 151,8 tỷ USD, tăng hơn 27%, bất chấp việc Mỹ gia tăng sử dụng các công cụ thuế quan và phòng vệ thương mại. Điều đó cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của Việt Nam trong quá trình dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, khi nhiều tập đoàn quốc tế lựa chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất thay thế hoặc bổ sung trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi giá trị.
Vai trò áp đảo của khu vực FDI
Việc xuất nhập khẩu cán mốc 920 tỷ USD không phải là kết quả ngẫu nhiên, đó là sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Chính phủ, các bộ, ban, ngành cùng nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân trên cả nước.
Tuy nhiên, khi bóc tách sâu hơn, bức tranh kỷ lục 920 tỷ USD cũng cho thấy sự phụ thuộc ngày càng lớn vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo số liệu của Cục Hải quan, kim ngạch xuất nhập khẩu của khu vực FDI năm 2025 ước đạt hơn 660 tỷ USD, chiếm khoảng 72% tổng kim ngạch và đóng góp gần như toàn bộ mức tăng so với năm trước. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ đạt khoảng 257 tỷ USD, gần như đi ngang.
Cán cân thương mại càng phản ánh rõ sự lệch pha này. Khu vực FDI xuất siêu lớn, ước đạt 48,2 tỷ USD, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước tiếp tục nhập siêu ở mức cao, thâm hụt hơn 27 tỷ USD. Phần tăng trưởng ấn tượng nhất của bức tranh xuất nhập khẩu vì thế chủ yếu thuộc về khối FDI. Đây vừa là điểm tựa quan trọng của tăng trưởng, vừa là giới hạn của mô hình phát triển nếu hiệu quả lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước không được cải thiện.
Đánh giá về con số kỷ lục 920 tỷ USD xuất nhập khẩu năm 2025 với PV Tiền Phong, TS Lê Đăng Doanh cho rằng đây là một kết quả rất đáng ghi nhận trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động mạnh, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng và các công cụ thuế quan, phòng vệ thương mại được nhiều nền kinh tế lớn sử dụng ngày càng linh hoạt.
Tuy nhiên, vị chuyên gia kinh tế cũng lưu ý rằng quy mô lớn chưa đồng nghĩa với chất lượng tăng trưởng cao. Cấu trúc xuất nhập khẩu hiện nay vẫn bộc lộ những hạn chế mang tính căn cơ, đặc biệt là sự phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa còn thấp.
Theo TS Lê Đăng Doanh, trong thời gian tới, thách thức lớn không phải là duy trì hay phá thêm các kỷ lục về kim ngạch, mà là nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải thúc đẩy mạnh hơn công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước để tham gia sâu vào chuỗi giá trị, đồng thời đa dạng hóa thị trường và giảm dần mức độ phụ thuộc vào một số đối tác lớn.
